Giải pháp để hấp dẫn các nhân tài, trở về phục vụ cho công cuộc canh tân Việt Nam
03.11.2026
Nhà toán học Trần Đình Sơn & kỹ sư Nguyễn Ngọc Bảo
I. Kinh nghiệm học hỏi từ Anh
Từ kinh nghiệm của Anh – một quốc gia từng và vẫn đang thu hút, giữ chân nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới – sau đây là những yếu tố quan trọng nhất để tạo môi trường hấp dẫn nhân tài toán học và khoa học công nghệ Việt Nam (đặc biệt những người đã có thành tựu quốc tế) sẵn sàng ở lại hoặc trở về đóng góp lâu dài là:
1. Tự chủ nghiên cứu và môi trường học thuật thực sự “tự do sáng tạo”
Ở Anh, các nhà khoa học sẵn sàng đánh đổi một phần thu nhập để được làm việc cùng những đồng nghiệp xuất sắc, có quyền tự quyết định hướng nghiên cứu, cân bằng giữa giảng dạy và nghiên cứu, và ít bị hành chính hóa. Họ muốn “làm khoa học thật” chứ không phải chạy theo chỉ tiêu hành chính hay xin phép từng bước nhỏ.
Với Việt Nam, điều này có nghĩa là: trao quyền thực sự cho các nhóm nghiên cứu mạnh, giảm tối đa thủ tục, cho phép nhà khoa học tự xây dựng đội ngũ, tự quyết định đề tài và cách làm việc. Nếu không có “không gian thở” này, dù lương cao cũng khó giữ chân người đã quen với môi trường quốc tế.
Vấn đề tự chủ, tự do sáng tạo trong nghiên cứu và quyền tự do thông tin, trao đổi với các nhà khoa học khác là 2 yếu tố căn bản để quyết định xem một môi trường nghiên cứu có thành công hay không. Các quốc gia độc tài thường chỉ dồn ngân sách, nhân lực vào quốc phòng, bộ máy an ninh. Trong cuộc chạy đua giữa 2 khối tự do và độc tài trong vòng 80 năm qua, sau đệ II Thế Chiến, người ta thấy các nhân tài thường tìm đến các môi trường tự do dân chủ để phát huy khả năng sáng tạo, nghiên cứu của họ, chứ không ngược lại.
2. Cơ sở vật chất, nguồn lực và cơ chế tài trợ ổn định, đủ lớn
Anh thu hút nhân tài nhờ hệ thống tài trợ cạnh tranh (UKRI, các quỹ quốc gia, Horizon Europe…), cơ sở hạ tầng hiện đại và các gói hỗ trợ dài hạn (fellowship, Global Talent Fund…). Nhà khoa học cần biết mình có thể theo đuổi bài toán lớn trong 5–10 năm chứ không phải lo “sống qua ngày” bằng đề tài nhỏ lẻ.
Với Việt Nam: cần các quỹ nghiên cứu cạnh tranh, minh bạch, đủ lớn; phòng lab/thiết bị đạt chuẩn quốc tế ở một số trung tâm xuất sắc; và các gói “return fellowship” hoặc “research chair” dài hạn dành riêng cho nhân tài về nước.
Hiện nay, đây là một nguồn tài chánh béo bở cho tham nhũng quy mô và báo cáo thành tích ngụy tạo dể vừa lòng cấp trên, nên việc phân bổ đúng mức nhân lực, tài chánh cho các công trình nghiên cứu dài hạn về công nghệ cao chỉ có thể thực hiện được trong một thể chế dân chủ tự do.
3. Cộng đồng đồng nghiệp xuất sắc + mạng lưới quốc tế
Nhà khoa học hàng đầu đi theo “người giỏi” và “môi trường có mật độ tri thức cao”. Anh thành công vì tập trung được nhiều người giỏi ở cùng một nơi (Cambridge, Oxford, Imperial, Francis Crick…). Họ tạo ra “hấp dẫn tập thể” – người giỏi kéo người giỏi.
Việt Nam cần xây dựng vài “cực hút” mạnh (ví dụ Viện Toán cao cấp, một số viện AI/bán dẫn/vật liệu…), khuyến khích các nhà khoa học hải ngoại về làm việc bán thời gian hoặc đồng hướng dẫn, tạo chuỗi kết nối liên tục với thế giới.
4. Lộ trình nghề nghiệp minh bạch, dựa trên năng lực và có triển vọng dài hạn
Ở Anh, sự thăng tiến tương đối dựa trên thành tựu khoa học, có lộ trình duyệt xét biên chế (LTDXBC tenure-track) hoặc các vị trí ổn định. Nhà khoa học cần thấy rõ tương lai: sau 5–7 năm họ sẽ đứng ở đâu, có được công nhận và trao quyền hay không.
Việt Nam cần cơ chế đánh giá và bổ nhiệm dựa trên thành tựu thực tế (công bố, tác động, đào tạo nhân lực), chứ không chỉ thâm niên hay quan hệ bè phái. Đồng thời tạo cầu nối linh hoạt giữa viện – trường – doanh nghiệp, dựa trên nhu cầu phát triển của Việt Nam.
Trong một chế độ độc tài như VN, đảng CS rất sợ những người có khả năng quy tụ và ảnh hưởng trên một số đông và có tư duy phóng khoáng, rộng mở ngoài đảng. Do đó, điểm này chỉ có thể thực hiện trong một thể chế tự do dân chủ. Vì đảng sẽ cướp công để dành cho con ông cháu cha quan chức trong đảng, dìm người tài ngoài đảng.
5. Điều kiện sống và làm việc toàn diện (không chỉ lương)
Lương bổng quan trọng, nhưng không phải yếu tố quyết định duy nhất. Anh còn thu hút nhờ: cấp chiếu khán linh hoạt cho tài năng (Global Talent Visa), hỗ trợ gia đình, cân bằng công việc – cuộc sống, và cảm giác được tôn trọng.
Với Việt Nam: cần gói hỗ trợ toàn diện (nhà ở, trường học cho con, bảo hiểm, thủ tục hành chính nhanh gọn) + môi trường làm việc tôn trọng trí thức, không hành chính hóa quá mức.
Tóm lại phần học hỏi kinh nghiệm
Anh giữ chân và thu hút nhân tài không chỉ bằng tiền, mà bằng hệ sinh thái: tự chủ, nguồn lực ổn định, cộng đồng khoa học xuất sắc, lộ trình nghề nghiệp rõ ràng và sự tôn trọng.
Với Việt Nam, để những nhà toán học và khoa học công nghệ đã có thành tựu quốc tế sẵn sàng ở lại hoặc trở về lâu dài, cần ưu tiên xây dựng vài “ốc đảo xuất sắc” thực sự, trao quyền thật, đầu tư đủ lớn và dài hạn, đồng thời tạo cảm giác “ở đây tôi có thể làm những việc lớn và có ý nghĩa cho đất nước”. Khi môi trường đủ tốt, tình yêu quê hương sẽ trở thành yếu tố cộng hưởng mạnh mẽ, chứ không phải gánh nặng phải hy sinh sự nghiệp.
II. Đâu là những điểm nghẽn
Từ quan sát thực tế và các phân tích gần đây về chảy máu chất xám ở Việt Nam, những điểm nghẽn chính khiến phần lớn nhân tài kỹ năng cao (đặc biệt nhà toán học, nhà khoa học công nghệ đã có thành tựu quốc tế) chọn ra nước ngoài và ít muốn trở về lâu dài gồm:
Điểm nghẽn lớn nhất là về thể chế chính trị, với quyền tự do ngôn luận, trao đổi thông tin và quyền có tư duy khác với đảng CSVN. Sau đây là các điểm nghẽn nổi bật sau điểm nghẽn lớn nhất
1. Ngân sách dành cho nghiên cứu
Kinh phí cấp theo danh mục cố định, thủ tục chậm, thời gian chờ đợi dài, thiếu cơ chế tài trợ dài hạn (5–10 năm) cho nhóm nghiên cứu mạnh. Nhà khoa học phải “sống qua ngày” bằng đề tài nhỏ lẻ, khó theo đuổi bài toán lớn. Cơ sở vật chất phòng thí nghiệm còn hạn chế so với chuẩn quốc tế. Một vài con số dẫn chứng cho sự nghèo nàn của Nghiên Cứu và Phát Triển (R&D) tại Việt Nam: ngân sách R&D khoảng 0,4 % GDP Việt Nam, tức là khoảng 2,1 tỷ USD, với 173.000 nhà nghiên cứu, tức khoảng 12.000 USD/ nhà nghiên cứu (nếu không bị bòn rút thêm vì tham nhũng). Ngân sách R&D tại Hoa Kỳ 880 Tỷ USD, với 2,2 triệu nhà nghiên cứu, tức khoảng 400.000 USD/nhà nghiên cứu. Tỳ số này thấp hơn các quốc ASEAN khác như Thái Lan, Philippines, Indonesia.
2. Quyền tự chủ trong nghiên cứu
Thủ tục xin phép, báo cáo, kiểm soát hành chính chiếm quá nhiều thời gian. Nhà khoa học trẻ thường bị “sai vặt”, thiếu quyền tự quyết hướng nghiên cứu, xây dựng nhóm và quản lý ngân sách. Môi trường chưa thực sự “tự chủ – cạnh tranh – minh bạch”. Tại các quốc gia độc tài như Nga, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, VN, ngân sách thường ưu tiên đổ vào bộ máy an ninh để kiểm soát, khống chế người dân, hơn là để người dân hưởng phúc lợi qua các tiến bộ về khoa học, kỹ thuật .
3. Đánh giá thành tích
Thăng tiến còn nặng về thâm niên, quan hệ bè phái, hồng hơn chuyên hơn là thành tựu khoa học (công bố chất lượng, đào tạo nhân lực, tác động). Thiếu LTDXBC rõ ràng và không có cơ chế đánh giá dựa trên năng lực khiến người giỏi không thấy tương lai lâu dài.
4. Hệ thống giáo dục và phát triển nhân tài
Sau khi tốt nghiệp đại học xuất sắc, thiếu chương trình bồi dưỡng chuyên sâu, thiếu “luồng đào tạo tinh hoa” liên tục. Mạng lưới kết nối với nhân tài trong và ngoài nước còn yếu, khiến nhiều người sau khi ra nước ngoài khó tìm “cửa về” phù hợp và lựa chọn ở lại hải ngoại. Nhân tài phải vào đảng, chấp nhận những tư duy đi ngược lại về tinh thần khoa học, đi ngược lại với lương tri của chính mính, thì mới tiến thân được.
5. Văn hóa làm việc và đãi ngộ toàn diện
Lương và đãi ngộ chưa cạnh tranh đủ, nhưng quan trọng hơn là cảm giác được tôn trọng, được trao nhiệm vụ lớn và được bảo vệ khi theo đuổi hướng nghiên cứu rủi ro. Thủ tục hành chính rườm rà và thiếu hỗ trợ gia đình (nhà ở, trường học cho con…) cũng là rào cản thực tế.
Nút thắt lớn nhất cần ưu tiên tháo gỡ, bao trùm 5 điểm nghẽn trên là thể chế chính trị độc tài.
Ngoài nút thắt lớn nhất, là sự kết hợp giữa cơ chế tài chính nghiên cứu lạc hậu và thiếu quyền tự chủ về nghiên cứu.
Khi nhà khoa học không có nguồn lực ổn định và không gian tự do để làm việc nghiêm túc, dù lương có tăng, dù có chính sách “trải thảm đỏ”, họ vẫn sẽ chọn môi trường quốc tế – nơi họ có thể tập trung vào khoa học đúng nghĩa. Các điểm nghẽn khác (đánh giá, giáo dục, văn hóa) đều bắt nguồn hoặc bị khuếch đại từ hai yếu tố này và thể chế chính trị độc tài.
III. Mô hình Việt Nam hậu cộng sản cần áp dụng
Dựa trên lịch sử phát triển khoa học của Anh, Hoa Kỳ, Liên Âu, Nhật Bản, Singapore và một số mô hình thành công khác, dưới đây là các giải pháp thực tiễn ngắn hạn và dài hạn mà Việt Nam hậu cộng sản có thể áp dụng để tháo gỡ các điểm nghẽn, xây dựng hệ sinh thái đủ mạnh giữ chân và thu hút lại nhân tài, đặc biệt trong toán học và khoa học cơ bản (những lĩnh vực đòi hỏi đầu tư dài hơi, tự do sáng tạo cao và cộng đồng tri thức dày đặc).
I. Giải pháp ngắn hạn (1–3 năm) – Tạo “cú hích” và tín hiệu rõ ràng
1. Triển khai gói “Return & Excellence Fellowships” đặc thù
Học hỏi từ Anh (Global Talent Fund, Royal Society fellowships), EU (ERC Starting/Consolidator Grants) và Singapore:
- Cấp 50–100 suất fellowship 5–7 năm cho nhà khoa học Việt kiều và quốc tế xuất sắc (ưu tiên toán học, vật lý, khoa học cơ bản).
- Bao gồm: lương cạnh tranh quốc tế, ngân sách nghiên cứu linh hoạt, hỗ trợ gia đình (nhà ở, trường học con cái), visa nhanh.
- Gắn với trung tâm xuất sắc hiện có hay sẽ xây dựng (VIASM, một số viện toán/AI/vật liệu).
2. Thí điểm 3–5 “Trung tâm xuất sắc tự chủ”
Học mô hình Cambridge/Oxford (Anh), Max Planck/RIKEN (Đức/Nhật), Biopolis (Singapore):
- Trao quyền tự chủ cao về tuyển dụng, quản lý ngân sách, hướng nghiên cứu.
- Tài trợ dài hạn 5–7 năm, hậu kiểm thay vì tiền kiểm dày đặc.
- Ưu tiên toán học và khoa học cơ bản – nơi cần “không gian tự chủ” lớn.
3. Đơn giản hóa thủ tục và tạo “Talent Pathway”
- Visa/giấy phép lao động đặc biệt cho nhân tài khoa học (học Global Talent Visa của Anh).
- Cơ chế công nhận chức danh giáo sư quốc tế nhanh chóng.
- Chương trình “Converging Scholars” mở rộng (như sáng kiến của GS Ngô Bảo Châu): mời nhà khoa học xuất sắc về làm việc 2–3 tháng/năm, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh.
4. Tăng cường mạng lưới và kết nối diaspora
Xây dựng nền tảng kết nối thường xuyên với cộng đồng nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, tạo cơ hội đóng góp từ xa qua các khóa giảng on line hoặc bán thời gian trước khi về hẳn.
II. Giải pháp dài hạn (5–15 năm) – Xây dựng hệ sinh thái bền vững
1. Đổi mới triệt để cơ chế tài chính nghiên cứu
Học hỏi NSF/NIH (Mỹ), UKRI (Anh), ERC (EU):
- Chuyển từ cấp phát danh mục cố định sang tài trợ cạnh tranh dựa trên xuất sắc.
- Tạo quỹ tài trợ dài hạn (5–10 năm) cho nhóm nghiên cứu mạnh và trung tâm xuất sắc.
- Tăng tỷ lệ GDP dành cho R&D cơ bản, chấp nhận rủi ro khoa học (không phải dự án nào cũng thành công ngay).
2. Xây dựng lộ trình nghề nghiệp minh bạch, dựa trên năng lực
Học LTDXBC của Mỹ và hệ thống thăng tiến dựa trên thành tựu của Anh/Nhật:
- Đánh giá dựa trên thành tựu khoa học thực chất (công bố chất lượng, đào tạo nhân lực, tác động), không nặng thâm niên hay quan hệ.
- Tạo cầu nối linh hoạt giữa viện – trường – doanh nghiệp và hướng phát triển của quốc gia
3. Phát triển “luồng đào tạo tinh hoa” liên tục
Học hỏi Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore:
- Chương trình bồi dưỡng sau đại học chuyên sâu.
- Đầu tư mạnh vào nghiên cứu sinh và postdoc chất lượng cao trong nước, kết hợp đồng hướng dẫn quốc tế.
- Mục tiêu: “sản xuất” nhân tài trong nước thay vì chỉ “xuất khẩu nguyên liệu”.
4. Xây dựng văn hóa học thuật tự chủ và tôn trọng trí thức
- Giảm thiểu tối đa thủ tục hành chánh, trao quyền thực sự cho nhà khoa học.
- Tạo môi trường nơi người giỏi được giao nhiệm vụ lớn, được bảo vệ khi theo đuổi hướng nghiên cứu rủi ro.
- Học bài học của Anh và EU: tự do học thuật là “nam châm” mạnh hơn cả lương.
5. Tập trung nguồn lực vào một số lãnh vực công nghệ cao thay vì dàn trải
Thay vì đầu tư mỏng trên diện rộng, chọn 5–7 lĩnh vực/trung tâm then chốt (toán học, AI, vật liệu đặc tính mới (hợp kim, đất hiếm), năng lượng tái tạo, nano, sinh học, lượng tử…) để tạo mật độ tri thức cao – nơi người giỏi kéo người giỏi.
Bài học cốt lõi từ quốc tế
- Anh & EU: Tự do học thuật + tài trợ xuất sắc dài hạn + visa linh hoạt.
- Mỹ: Cạnh tranh mạnh + LTDXBC + hệ sinh thái đại học – công nghiệp.
- Nhật Bản & Singapore: Đầu tư dài hơi vào cơ bản + môi trường quốc tế hóa cao + đãi ngộ toàn diện.
- Chìa khóa chung: Không chỉ “trải thảm đỏ” bằng tiền, mà phải trao quyền + nguồn lực ổn định + cộng đồng xuất sắc.
Tổng kết
Việt Nam đang có một số nền tảng thuận lợi đáng kể (người dân chăm chỉ, giới trẻ hiếu học, khả năng thu thập công nghệ cao rất nhanh, cộng đồng hải ngoại mạnh về thành tích hội nhập, lợi tức cao (250 tỷ USD cho 6,5 triệu người hải ngoại so với 520 tỷ USD cho 102 triệu người Việt trong nước), ít nhất 0,8 triệu chuyên gia có kỹ năng cao, mong muốn đóng góp cho đất nước, nhưng rào cản lớn nhất là chế độ độc tài CSVN, không chấp nhận tư duy độc lập với đảng, không chấp nhận tự do ngôn luận, tự do phổ biến thông tin.
Sau khi chế độ độc tài chấm dứt, cần triển khai song song các giải pháp trên, đặc biệt ưu tiên toán học và khoa học cơ bản, nơi tạo nền móng cho mọi đột phá công nghệ, thì hoàn toàn có thể đảo chiều dòng chảy nhân tài trong thời gian rất ngắn 1-3 năm. và VN sẽ phát triển rất nhanh./.
......
⤑







